Bát tự Đường Thái Tông Lý Thế Dân:
Mậu Ất Mậu Nhâm
Ngọ Sửu Ngọ Tuất

Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã khai sáng thời thịnh trị Trinh Quán – giai đoạn hưng thịnh sáng suốt bậc nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, ngôi hoàng đế của ông lại đạt được thông qua một cuộc chính biến cung đình vô cùng tàn khốc, mà ngòi nổ của cuộc chính biến ấy lại bắt nguồn từ một lời tiên đoán.
Ngày mồng một tháng sáu năm Vũ Đức thứ chín, sao Thái Bạch (Kim Tinh) xuất hiện ban ngày, vạch qua bầu trời. Theo Cựu Đường Thư – Thiên văn chí, Kim Tinh xuất hiện ban ngày là điềm báo sẽ có sự thay đổi chính quyền. Ngày mồng ba tháng sáu, Kim Tinh lại một lần nữa xuất hiện ban ngày. Thái sử lệnh Phó Dịch dâng mật tấu lên Đường Cao Tổ Lý Uyên, nói rằng:
“Thái Bạch hiện ở phân dã nước Tần, Tần Vương ắt sẽ có thiên hạ.”
Nếu nhìn bằng con mắt của người hiện đại, đây chẳng qua chỉ là một lời tiên đoán của nhà chiêm tinh, đúng hay không còn đáng nghi ngờ. Nhưng vào thời đó, lời tiên đoán của Thái sử lệnh tuyệt đối không thể xem nhẹ.
Vì vậy, Lý Uyên triệu Lý Thế Dân vào cung, cho xem mật tấu, dụng ý là ám chỉ ông nên tự sát để rửa sạch hiềm nghi.
Lý Thế Dân khi ấy vô cùng kinh hãi: mưu đoạt hoàng quyền là tội chết! Nhưng Lý Thế Dân quả không hổ là cao thủ đấu tranh chính trị, ông lập tức bình tĩnh lại và nói:
“Con chết thì không đáng tiếc, nhưng trước khi chết có một việc muốn bẩm báo phụ hoàng. Kiến Thành và Lý Nguyên Cát dâm loạn hậu cung, tư thông với XX phi tần, việc này phụ hoàng có biết không?”
Lý Uyên nghe xong vô cùng kinh ngạc, nói:
“Lời ngươi nói, trẫm cũng không thể tin ngay. Ngày mai triệu hai huynh đệ cùng các đại thần vào cung, đối chất cho rõ ràng.”
Thế rồi Lý Uyên thả Lý Thế Dân trở về.
Thực ra chuyện Kiến Thành và Nguyên Cát dâm loạn hậu cung rất có thể chỉ là lời bịa đặt ứng biến trong lúc nguy cấp của Lý Thế Dân. Nhưng việc thả ông về lại cho ông cơ hội.
Lý Thế Dân hiểu rất rõ: nếu ngày mai đối chất mà không có việc này (dù có thật thì cũng không thể có chứng cứ, ai lại chịu thừa nhận), ông chắc chắn phải chết. Vì vậy, ông cùng thủ hạ mật mưu hoạch biến cố Huyền Vũ Môn. Ngày hôm sau, ông phục binh ở Huyền Vũ Môn, giết chết hai người anh em, ép vua thoái vị và tự mình lên ngôi hoàng đế.
Sau khi lên ngôi, việc đầu tiên Lý Thế Dân làm là triệu kiến Thái sử lệnh Phó Dịch, hỏi về chuyện mật tấu. Phó Dịch thẳng thắn đáp:
“Thần là Thái sử lệnh, báo trước đại sự quốc gia cho hoàng thượng là trách nhiệm của thần. Có tình mà không báo mới là thất trách. Nay Tần Vương đã lấy được thiên hạ, muốn giết hay chém, tùy ý.”
Có lẽ mọi người sẽ nghĩ kết cục là Phó Dịch bị giết, bởi chính mật tấu của ông suýt nữa khiến Lý Thế Dân mất mạng. Nhưng Lý Thế Dân không làm như vậy. Có lẽ chính vì bản mật tấu ấy mà lời tiên đoán mới trở thành hiện thực. Nếu không có mật tấu này, Lý Thế Dân không bị dồn đến đường cùng, cũng khó tưởng tượng ông có lý do gì để phát động chính biến. Xuất phát từ việc yêu quý nhân tài và chính sách khoan dung, giống như đối với Ngụy Trưng, vị Thái sử lệnh này tiếp tục được lưu nhiệm.
Lịch sử giống như một vở kịch, vừa ngoài dự liệu, lại vừa hợp tình hợp lý. Chúng ta không thể nhìn thấu động cơ thực sự làm thay đổi lịch sử; điều ta thấy là trong lịch sử, cái gọi là “ngẫu nhiên” ở khắp mọi nơi. Tôi là người tin vào thiên mệnh: lịch sử là sự kết hợp của thiên đạo và nhân mệnh; chỉ trong thời điểm thích hợp mới xuất hiện con người thích hợp, để viết nên đoạn lịch sử thuộc về họ.
Mọi cái gọi là ngẫu nhiên, chẳng qua là vì chúng ta chưa phát hiện ra tính tất nhiên ẩn phía sau mà thôi. Sau đây, chúng ta sẽ dùng mệnh lý để phân tích vị minh quân vĩ đại này.
“Lấy đồng làm gương có thể chỉnh trang mũ áo; lấy sử làm gương có thể biết hưng suy; lấy người làm gương có thể rõ phải trái.”
Trong số các bậc khai quốc quân vương các triều đại, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đặc biệt nổi bật ở chỗ văn trị võ công đều xuất sắc, văn võ song toàn, mở ra một thời đại thịnh trị, sử gọi là “Trinh Quán chi trị”.
Xét bát tự của ông:
Mậu Ất Mậu Nhâm
Ngọ Sửu Ngọ Tuất
Mậu Thổ sinh vào tháng Sửu, vốn là trời lạnh đất đông, nhưng được Ngọ Hỏa chính ấn tọa dưới ngày, xua lạnh giải đông; lại thêm năm Mậu Ngọ xuất hiện, hình thành cục Tỷ Kiếp.
Tuy nhiên Sửu – Ngọ tương xuyên, Sửu ở nguyệt lệnh là Tỷ Kiếp huynh đệ, vì vậy huynh đệ phản mục, bị giết trong cung cấm. Trên Sửu có tọa Ất, Ất là Quan là cha, nên có thể ép cha thoái vị, kế thừa đại nghiệp.
Sở dĩ cuối cùng có thể thành tựu đại nghiệp, lưu danh sử sách, là nhờ trụ giờ Tuất Thổ: Hỏa Thổ quy mộ ở Tuất. Vì vậy không chỉ võ công vượt trội, anh hoa lộ rõ, mà còn biết ẩn nhẫn, mưu lược, trí dũng song toàn; dưới trướng thu nạp một lượng lớn nhân tài: võ có Uất Trì Kính Đức, Tần Thúc Bảo, Từ Thế Tích, Lý Tĩnh…; văn có Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối cùng mười tám học sĩ.
Lại đặc biệt coi trọng hình Sửu – Tuất: Tuất được hai Mậu Ngọ nhập mộ, năng lượng cực lớn, nên có thể hình khai kho Thương Quan Sửu Thổ, chế hết Thương Quan nguyệt lệnh để đoạt được Ất – ngôi đế vị. Nếu không có Tuất Thổ quy mộ, thì hai Ngọ hại Sửu chưa chắc đã chế tận; mà “hại” trong hành sự thường thẳng nhưng khó thành, bạo mà không trị, nhiều trắc trở gian nan; con người tất sẽ phô trương ngạo mạn, khó có mưu lược như Thái Tông.
Quan trọng hơn nữa, kho Tuất có thể rèn luyện một sức mạnh quân sự, hình thành khí hậu chính trị, giành được lòng người và dân ý, từ đó ổn định thiên hạ.
Tổng quát mà xét, mệnh này là kết cấu “khứ Kim Thủy”, có đủ bốn tầng làm công, chính là mệnh đế vương. Mệnh này được hai kho là hai tầng; được nguyệt lệnh thêm một tầng; lại thêm nguyên thần và dụng thần đồng chế thêm một tầng nữa. Vì vậy mới có thể trở thành một vị khai quốc quân chủ.
Xét vận trình: khởi phát ở vận Mậu Thìn. Thìn là mộ của Sửu, tặc thần nhập mộ tưởng như bất lợi, có nghi ngờ phản cục; nhưng nguyên cục có Tuất, Tuất kho thu hai Ngọ Hỏa, hỏa lực rất mạnh, Thìn – Tuất xung, làm công mãnh liệt, dồn toàn bộ công lực vào một vận.
Đại vận khởi từ 5 tuổi:
Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ
- Vận Thìn, năm Bính Tuất: giết anh em Kiến Thành, Nguyên Cát, lên ngôi (ứng Thìn – Tuất xung).
- Vận Thìn, năm Đinh Hợi: đổi niên hiệu Trinh Quán (Chính Ấn chủ từ bi và chính trực, có thể soi làm gương, nên gọi là Trinh Quán).
- Vận Kỷ, năm Ất Mùi: Thái thượng hoàng băng hà (Ất Mùi phản cục với Ất Sửu, Quan chủ cha).
- Vận Tỵ, năm Đinh Dậu: nạp Võ tài nhân (lúc đó Võ thị mười bốn tuổi; Đinh là cung thê, Dậu là thê, Thương Quan chủ nhỏ).
- Vận Canh, năm Quý Mão: phế thái tử, lập Lý Trị (lấy Quan tinh làm đế vị, Ất Canh hợp khử Ất cũ, Mão Tuất hợp đến Quan tinh mới).
- Vận Canh, năm Giáp Thìn: chinh phạt Cao Ly; năm Ất Tỵ ban sư hồi triều (ứng Thìn – Tuất xung).
- Vận Ngọ, năm Kỷ Dậu: băng hà (vận Ngọ âm dương phản cục, nhờ Tuất mà kéo dài mệnh; đến năm Dậu xuyên Tuất nên mất).
[hết]
Bài viết trích trong Bốc Văn Mệnh Lý Học – Biên Dịch Khang Minh






