
Trong học thuật Kham Dư, lấy việc thừa nhận và ứng dụng khí của trời đất làm tông chỉ. Muốn quan sát sự vận hành của khí cơ trong thiên địa, tất phải dựa vào Tam Châm của La Kinh để xác định phương vị. Sự tinh diệu của đồ hình Tam Châm không chỉ đơn thuần là phép đo phương hướng trên một mặt phẳng, mà thực chất là một hệ tọa độ không gian được hình thành từ ba vòng Nhị thập tứ sơn phân bố từ trong ra ngoài, đan xen và lệch nhau từng tầng.
Người xưa định phương vị chủ yếu dựa trên ba phương pháp:
- Quan sát từ trường của Trái Đất.
- Xem bóng mặt trời.
- Quan sát thiên tinh.
Vì vậy, ba tầng trong La Kinh gồm:
– Địa Bàn Chính Châm (正針地盤)
– Nhân Bàn Trung Châm (中針人盤)
– Thiên Bàn Phùng Châm (縫針天盤)
chính là ba hệ định hướng tương ứng với ba phương pháp trên.
Ba châm đan xen, hiển – tàng hỗ dụng, mới có thể trên thì liên hệ tinh độ thiên văn, dưới thì khảo sát núi sông địa lý; khiến cho Long, Huyệt, Sa, Thủy, Hướng đều có căn cứ xác thực, cô đọng toàn bộ huyền cơ kinh vĩ của vũ trụ trong những vòng tròn đồng tâm của La Bàn.
1. Địa Bàn Chính Châm và Nhị thập tứ sơn
Xét về kết cấu cốt lõi của Tam Châm đồ, vòng trong cùng chính là Nhị thập tứ sơn của Chính Châm.
Địa Bàn Chính Châm là căn cứ để cách long (格龍), vì vậy đứng ở vị trí nền tảng của ba bàn, đồng thời cũng là gốc của Trung Châm và Phùng Châm.
Sự hình thành của Chính Châm gắn liền với việc phát hiện từ thạch. Trục Tý – Ngọ của Chính Châm dùng Tư Nam (la bàn từ tính) phản ánh chính xác phương hướng địa từ, tiếp nhận địa khí và dùng để xác định long khí dưới lòng đất.
Do đó, chức năng trọng tâm của Chính Châm là:
Cách Long – Định Hướng.
Như kim chỉ ở trung tâm đồ hình biểu thị:
- Tý – Ngọ
- Mão – Dậu
là bốn phương chính của trời đất.
Lấy đó làm chuẩn, quan sát sơn long từ phương nào đến, có thể dùng La Bàn xác định đó là:
- Long Dương
- hay Long Âm.
Mọi phương pháp:
- Hành Long định hướng,
- Xuyên Sơn,
- Thấu Địa,
đều phải lấy trục Tý – Ngọ của kim từ Chính Châm làm cơ sở.
Chỉ khi đó mới có thể phân định địa giới, xác lập nền tảng cho việc suy diễn Ngũ hành:
- Sinh
- Vượng
- Hưu
- Tù
của long mạch.
2. Nhân Bàn Trung Châm và công dụng Tiêu Sa
Sau khi Chính Châm được xác lập, Trung Châm được bố trí lệch đi nửa vị.
Vòng giữa của đồ hình chính là Nhị thập tứ sơn Trung Châm.
Tương truyền bàn này do đại sư phong thủy đời Tống Lại Văn Tuấn (賴文俊) sáng lập khi đưa hệ thống Nhị thập bát tú và Thiên tinh vào phong thủy.
Khác với Chính Châm:
- Chính Châm lấy địa từ làm chuẩn.
- Trung Châm lấy sao Bắc Cực làm chuẩn Bắc.
Do đó gọi là: Bắc Cực Tý Ngọ (北極子午).
Quan sát Tam Châm đồ có thể thấy:
- Trung Châm lệch khỏi Chính Châm 7,5 độ.
- Xoay ngược chiều kim đồng hồ so với Chính Châm.
- Trục Tý – Ngọ của nó nằm đúng giữa ranh giới:
- Nhâm – Tý
- Bính – Ngọ
của nội bàn.
Phong thủy gia gọi đây là:
Khí tiên chí (先至之氣).
Công dụng quan trọng nhất của Trung Châm là:
Tiêu Sa – Xuất Sát (消砂出煞).
Lại Văn Tuấn dùng hệ thống Nhị thập bát tú để xét Sa và Thủy.
Thông qua quan hệ sinh khắc giữa:
- Ngũ hành của Trung Châm
- và Ngũ hành tọa sơn,
có thể nhận định các ngọn núi nhỏ xung quanh công trình là:
- Cát thần,
- Thực thần,
- hay Sát thần.
Nhờ đó bổ sung cho những hạn chế của Chính Châm Địa Bàn, làm cho việc định hướng linh hoạt và chính xác hơn.
3. Thiên Bàn Phùng Châm và công dụng Nạp Thủy
Nếu Trung Châm lệch nửa vị so với Địa Bàn thì Phùng Châm cũng lệch nửa vị theo cách tương tự.
Vòng ngoài cùng của đồ hình chính là:
Nhị thập tứ sơn Phùng Châm.
Bàn này được cho là do đại tông sư đời Đường Dương Quân Tùng (楊筠松) sáng lập dựa trên phương vị bóng mặt trời.
Nó lấy Mặt Trời làm căn cứ nên được gọi là:
- Quỹ Cảnh Tý Ngọ (晷景子午)
- hoặc Nghiệt Cảnh Tý Ngọ (臬景子午).
Quan sát cách sắp xếp của Phùng Châm:
- Trục Tý – Ngọ nằm đúng giữa ranh giới:
- Tý – Quý
- Ngọ – Đinh
của Chính Châm.
Nó lệch 7,5 độ so với Chính Châm và đi trước Chính Châm nửa vị.
Phùng Châm chủ quản:
Thiên Khí (天氣).
Hai mươi bốn tiết khí hoàn toàn tương ứng với hệ Thiên Bàn này.
Vì vậy trong ứng dụng phong thủy thực tế, Phùng Châm chuyên dùng để:
Nạp Thủy (納水).
Bởi chu kỳ:
- Sinh
- Vượng
- Mộ
được phân bố trên mười hai địa chi.
Thiên Bàn Phùng Châm dùng để từ huyệt vị xem xét:
- Nước đến từ đâu.
- Nước đi về đâu.
Nhằm đánh giá cát hung của thủy khẩu.
Ngay phía ngoài vòng Phùng Châm còn có hệ thống:
240 phân độ của Phùng Châm
được chia rất nhỏ.
Khi Chính Châm ở vị trí “nhị – bát”, thì Phùng Châm tương ứng “tam – thất”, dùng để gia giảm tinh vi tại ranh giới giao tiếp âm dương.
4. Tổng luận về Tam Châm
Tổng hợp toàn bộ kết cấu Tam Châm:
Mặc dù ba tầng Nhị thập tứ sơn có thứ tự sắp xếp giống nhau, nhưng do chuẩn Tý – Ngọ khác nhau nên mỗi tầng lệch nhau 7,5 độ.
Nhờ đó:
- Thiên Bàn,
- Địa Bàn,
- Nhân Bàn
có thể phối hợp và bổ trợ lẫn nhau.
Giữa:
- Trung Châm Nhân Bàn
- và Phùng Châm Thiên Bàn
hình thành góc lệch đúng 15 độ.
Điều này phản ánh sự quan sát thực tế và khả năng điều chỉnh linh hoạt của cổ nhân đối với hiện tượng từ sai giác (magnetic declination).
Ba bàn có chức năng riêng:
| Bàn | Chức năng chủ yếu |
|---|
| Địa Bàn Chính Châm | Lập hướng, cách long |
| Nhân Bàn Trung Châm | Tiêu sa, xuất sát |
| Thiên Bàn Phùng Châm | Nạp thủy |
Ba hệ thống này phối hợp với nhau để khảo sát thiên địa.
Người học nếu có thể nghiên cứu sâu cấu trúc ấy, phân biệt rõ phạm vi ứng dụng và chức trách của từng bàn, khiến:
- Long quy về Long,
- Sa quy về Sa,
- Thủy quy về Thủy,
thì tình thế của núi sông và đạo lý âm dương đều có thể lĩnh hội tuần tự từ những vòng kinh vĩ của La Bàn.
Trước hết phải xác lập phân dã, sau đó mới hiểu rõ chức năng của từng bàn, rồi mới tiến tới suy diễn lý khí. Có như vậy mọi phép luận đoán mới có chỗ dựa vững chắc.

