Chính Vị
“Chính vị” là ngội vị đúng chỗ, “Đắc trung” là được giữa.
Số của hòa là tính từ dưới lên trên: 1,2,3,4,5,6 (sơ-nhị-tam-tứ-ngũ-thượng)
Chính vị của hào Dương là ở đúng chỗ hào lẻ 1,3,5, (sơ- tam- ngũ)
Chính vị của hào Âm là ở đúng chỗ hào chắn 2,4,6 (nhị-tứ-lục=thượng)
Hào đắc trung là được giữa Tượng dưới ( Nội quái, hạ quái), tức ở hào Nhị (2), và được ở giữa Tượng trên (Ngoại quái, thượng quái) tức hào Ngũ (5).
Bất kêt hào Âm hoặc Dương nếu không đúng chỗ ngôi vị của mình thì xem là không chính vị, và không được ở giữa (vị trí hào Nhị và Ngũ) là hào không đắc Trung.
Trong Kinh Dịch rất xem trọng hào có chính vị hay không, đắc trung và có tương ứng hay không để xác lập Lý Đức Tính, Danh Ý của Tượng Dịch Quái, Quẻ đó.
Thế nào là hào tương ứng?
Hào tương ứng theo lý Tam Tài là hào ở Quái trên và hào ở Quái dưới có tương ứng với nhau hay không:
- Thượng ứng thượng: Hào Tam ứng Lục ( hào 3 và 6 tương ứng âm dương)
- Trung ứng trung: Hào Nhị ứng Ngũ ( hào 2 và 5 tương ứng âm dương)
- Hạ ứng Hạ: Hào sơ ứng Tứ ( hào 1 và 4 tương ứng âm dương)
Ví Dụ

Ký Tế:
Các hào Âm Dương vừa chính vị, vừa đắc trung, vừa tương ứng âm dương từng cặp, giao nhau đầy đủ không thừa hào nào. Hào 6+5, hào 4+3, hào 2+1.
Đặc biệt là hào 2 và hào 5 vừa chính vị, vừa đắc trung, vừa tương ứng giao nhau của hai tượng trên dưới đầy đủ không có quẻ nào tương ứng, cùng hợp Âm Dương được như vậy, ngay cả như quẻ Địa Thiên Thái tuy cũng là hợp giữa hai quái Âm Dương nhưng các hào lại đắc vị được như vậy.
Cho nên tiền nhân mới đặt tên cho quẻ này là “Ký Tế”, là lý Hợp dã, hiện hợp, thực hiện, “hanh tiểu giả chi tượng” việc nhỏ thì thành.
Vị Tế:
Tuy các hào Âm Dương không chính vị, nhưng riêng hào Nhị Dương (2) và hào Ngũ Âm (5) được đắc trung mà lại tương ứng, cứu tế nhau nên vẫn có mối quan hệ, giao nhau, thực hiện trong hoàn cảnh thất cách, chưa được, chưa xong, nữa chừng dang dở.
Chỉ có hai cặp 5+4, 3+2 là được Âm dáng Dương thăng giao hòa miễn cưỡng, còn hào Thượng và hào Sơ thì Thương dương thăng lên, Sơ âm giáng xuống, chúng không có chỗ để giao hòa là bế tắc, thất cách.
Nên Tiền nhân mới đặt tên Quẻ là “Vị Tế”, là dở dang, chưa xong, và chịu Lý là Thất dã, Thất Cách, chưa xong, nhưng cũng được phần nào nên có câu “ưu trung vọng hỷ chi tượng”, trong cái lo có cái mừng.
